Tiền số ngân hàng trung ương: Vài điều cơ bản

Thời gian gần đây, cùng với sự tiến bộ của công nghệ hỗ trợ, nhu cầu thanh toán số (digital payments) và sự trỗi dậy mạnh mẽ của các đồng tiền mã hóa khu vực tư nhân (private crytocurrencies), ngân hàng trung ương của nhiều quốc gia bắt đầu nghiên cứu và lên kế hoạch phát hành đồng tiền kỹ thuật số (hay tiền số ngân hàng trung ương – central bank digital currencies, CBDCs) của chính mình. Trước khi tìm hiểu về CBDC vận hành như thế nào, chúng ta cần quay về với vấn để cơ bản:

  1. CBDC là gì?
  2. CBDC khác với một đồng tiền số tư nhân như thế nào?
  3. CBDC tham gia/thay thế vào sự vận hành của hệ thống tiền tệ truyền thống theo cơ chế ra sao?
  4. Sự ra đời của CBDC mang lại lợi ích gì cho người dân và hệ thống tài chính?

Bài viết này nhằm hỗ trợ trả lời các câu hỏi nêu trên.

Tiền số ngân hàng trung ương (CBDC) là gì?

Tiền số ngân hàng trung ương (a central bank digital currency, CBDC) – đôi lúc còn gọi là tiền diện tử của ngân hàng trung ương – là dạng tiền như tiền giấy ngân hàng (tiền pháp định, fiat money) dưới dạng số (a digital banknote) (IMF 2016)

Tiền số ngân hàng trung ương (CBDC) có hai hình thức: (1) CBDC giao dịch lẻ (a retail CBDC) – giữa các cá nhân thanh toán trong kinh doanh, mua sắm và giao dịch lẫn nhau; và (2) CBDC giao dịch sỉ (a wholesale CBDC) – giữa các định chế tài chính thực hiện giao dịch qua các thị trường tài chính.

Vận hành tiền tệ trong hệ thống ngân hàng truyền thống

CBDC là tiền ngân hàng trung ương của một quốc gia theo luật định. Do vậy, bản thân đồng tiền này sẽ có những đặc tính chung của tiền hiện hành.

3 chức năng cơ bản của tiền: (1) trung gian trao đổi – phương tiện để đổi lấy các tài sản phi tài chính (nonfinancial assets – như hàng hóa, thiết bị…), các dịch vụ, và các tài sản tài chính mà không phải thông qua cơ chế hàng đổi hàng; (2) dự trữ giá trị – phương tiện nắm giữ của cải; (3) đơn vị tính toán – tiêu chuẩn cho việc niêm giá cả hàng hóa và dịch vụ, tính giá trị các công cụ tài chính và các tài sản phi tài chính, do vậy chức năng này cung cấp phương tiện để so sánh giá trị và giúp tính toán về tài chính. Ngoài ra, một chức năng thứ tư đôi khi được nhấn mạnh thêm cùng 3 chức năng bên trên; đó là (4) tiêu chuẩn cho việc thanh toán trễ hạn hay thanh toán bị trì hoãn – phương tiện giải quyết các nghĩa vụ nợ.

Xét về tính chất, tiền điện tử (electronic money) là một dạng đặc biệt của tiền gửi có thể chuyển nhượng (transferrable deposits) và được xếp vào tiền gửi (deposits) thay vì là tiền in đúc của quốc gia (currency, tiền giấy & tiền xu).

Tiền điện tử (electronic money) là một công cụ thanh toán (payment instrument) theo đó giá trị tiền (monetary value) được lưu trữ dạng điện tử, hoặc là trên thiết bị vật chất (physical device) hay được điều khiển từ xa tại một máy chủ (server). Cũng cần lưu ý rằng, để thỏa là tiền điện tử (electronic money), công cụ thanh toán này phải có thể được sử dụng để thực hiện thanh toán cho các bên thứ ba.

Trong khi tiền in đúc của quốc gia (currency, tiền giấy & tiền xu) chỉ có các đặc tính bảo mật có tính vật chất, thì tiền điện tử (electronic money) sử dụng mật mã (cryptography) để xác thực các giao dịch (authenticate transactions) và để bảo vệ tính bảo mật (confidentiality) và tính nguyên vẹn (integrity) của quá trình xử lý dữ liệu.

Tiền số ngân hàng trung ương (CBDC) so với tiền theo nghĩa truyền thống

Ngày nay, ở hầu hết tất cả các quốc gia, các ngân hàng trung ương phát hành hai loại tiền và cung cấp cơ sở hạ tầng hỗ trợ dạng tiền thứ ba. Hai loại tiền do ngân hàng trung ương phát hành bao gồm: (1) Tiền mặt vật chất – giấy và xu (physical cash, currency, notes & coins); và (2) Tiền gửi ngân hàng trung ương dạng điện tử (electronic central bank deposits). Dạng tiền thứ hai còn được biết đến với tên gọi là các khoản dự trữ ngân hàng trung ương (central bank reserves) hay các số dư thanh toán (settlement balances); đây cũng chính là tiền gửi có thể chuyển nhượng (transferrable deposits) của các ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương.

Dạng thứ ba đề cập bên trên đó là tiền tư nhân (private money). Ngân hàng trung ương không phát hành tiền này mà chỉ cung cấp cơ sở hạ tầng cho dạng tiền này hoạt động. Về nguyên tắc, tiền tư nhân này có sẵn thông qua các khoản tiền gửi ngân hàng thương mại (commercial bank deposits) chủ yếu ở dạng điện tử (hay là tiền gửi có thể chuyển nhượng tại các ngân hàng thương mại (transferrable deposits) và tiền gửi khác (short-term deposits)) và có thể có khả năng tiếp cận rộng rãi.

Các ngân hàng trung ương hỗ trợ tiền ngân hàng thương mại (commercial bank money) theo một số cách thức khác nhau: (1) cho phép các ngân hàng thương mại tất toán các hoạt động thanh toán liên ngân hàng (interbank payments) sử dụng tiền ngân hàng trung ương (central bank money); (2) bảo đảm chuyển đổi giữa tiền ngân hàng thương mại (commercial bank money) và tiền ngân hàng trung ương (central bank money) thông qua cung cấp tiền mặt (banknote provision); và (3) cung cấp thanh khoản dự phòng thông qua chức năng người cho vay cứu cánh cuối cùng (lender of last resort).

Điểm quan trọng ở đây mà chúng ta cần phân biệt đó là: tiền mặt vật chất (physical cash, currency) và dự trữ (reserves) là nghĩa vụ nợ (liability) của ngân hàng trung ương, nhưng các khoản tiền gửi ngân hàng thương mại (commercial bank deposits) thì không phải. Vì vậy CBDC với định nghĩa tương ứng ở phần đầu bài viết này sẽ được xem như là một dạng mới của tiền ngân hàng trung ương.

CBDC vì mục đích chung (a general purpose CBDC) sẽ phải yêu cầu một hệ thống tương thích nhằm bảo đảm cung cấp và phân phối dạng tiền này đến công chúng thuận lợi. Hệ thống này có thể sẽ bao gồm ngân hàng trung ương (central bank), các tổ chức điều hành (operator(s)), các ngân hàng và các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán (payment service providers and banks).

CBDC so với tiền mã hóa khu vực tư nhân

CBDC (central bank money) cũng khác với tiền ảo và tiền mã hóa (cryptocurrencies) – các loại tiền số này chủ yếu do khu vực tư nhân kiểm soát (privately issued crytocurrencies).Một số ví dụ tiền mã hóa khu vực tư nhân có thể kể đến như Bitcoin, Libra…

Ví dụ về thanh toán sử dụng CBDC

Ví dụ 1:

Hãy tưởng tượng bạn đang quan sát một số khách hàng xếp hàng đặt mua một ly cà phê tại một cửa hàng cà phê trên phố. Mỗi trong số các vị khách này có thể thanh toán bằng cách thức riêng sau đây: (1) Tiền mặt (cash) do ngân hàng trung ương (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, SBV) phát hành được pháp luật bảo đảm; hay (2) Thẻ tín dụng (credit card) hay thẻ ghi nợ (debit card), hay ngay cả sử dụng ví điện tử (mobile wallet) – tiền được một ngân hàng bảo đảm dạng kỹ thuật số và được đổi qua internet.

Dù theo cách thanh toán (1) hay (2) thì những gì mà vị khách này thanh toán không phải dưới dạng tiền có kết nối điện tử trực tiếp với bảng cân đối (balance sheet) của ngân hàng trung ương (ở đây là SBV chẳng hạn). Nói chung là, cách thanh toán (1) và (2) là cách thông dụng có tính truyền thống bấy lâu nay xung quanh chúng ta.

Ví dụ 2:

Trở lại với nhóm khách hàng đang mua cà phê sau khi CBDC được phát hành và giả sử hiện có 3 khách hàng. Với ly cà phê là đồng giá – 50.000 VND/ly tương ứng ba khách hàng sau: (1) Vị khách thứ nhất trả tờ 50.000 VND tiền mặt. (2) Vị khách thứ hai trả bằng thẻ ghi nợ (debit card) kết nối với tài khoản ngân hàng của mình.(3) Vị khách thứ ba thanh toán qua ví điện tử (mobile wallet) kết nối CBDC.

Ở đây, vị khách thứ nhất và thứ ba đã sử dụng tiền của ngân hàng trung ương nhưng khác nhau về hình thức – lần lượt là hình thức cũ (tiền mặt đối với vị khách thứ nhất) và mới (CBDC đối với vị khách thứ ba); trong khi vị khách thứ hai sử dụng số dư trong tài khoản của mình tại ngân hàng.

CBDC có mang lại lợi ích gì cho người dân không?

Nhiều nghiên cứu hiện hành cho thấy CBDC ra đời hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích tiềm năng; có thể kể đến như là: (1) Gia tăng khả năng tiếp cận và tính sẵn có của các sản phẩm và dịch vụ tài chính (financial inclusion); (2) Tăng cường sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ (monetary policy transmission); (3) Tính an toàn và hữu hiệu thanh toán (payment safety and efficiency); và (4) Sự sẵn có như của tiền mặt (availability of cash) của đồng tiền số này. Bên cạnh đó, những rủi ro tiềm ẩn và khả năng buộc phải đánh đổi của CBDC có thể xảy ra. Ngoài ra, vẫn còn nhiều câu hỏi phức tạp khác nữa cần được trả lời thỏa đáng và cần có thời gian nghiên cứu.

Xem thêm chi tiết bài viết tổng hợp “Tiền số ngân hàng trung ương: Vài điều cơ bản” của thầy Châu Văn Thành, giảng viên Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM. Phiên bản này dùng cho thảo luận và tiếp tục hoàn chỉnh. Ngày 05/06/2021.

Translate »