1990 | Một lựa chọn bắt đầu từ tình yêu quê hương
Trước khi nộp hồ sơ dự thi đại học niên khóa 1990, cô Vũ Thị Hồng Ngọc biết Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh mở một chuyên ngành mới – Kinh tế Du lịch. Đó là một lựa chọn khiến cô bị cuốn hút ngay từ đầu. Cô chia sẻ, mùa hè 1992 khi kết thúc giai đoạn 1, K16 đăng ký nguyện vọng vào chuyên ngành cho giai đoạn 2, cô từng bị lớp trưởng 16-9 trả phiếu đăng ký nguyện vọng 3 lần cho suy nghĩ lại chỉ vì cô chọn NV1: Du Lịch, NV2: Ngoại Thương. “Lần thứ hai đứng trước ngã 3 đường, không còn là sự lựa chọn âm thầm như khi nộp hồ sơ nhập học hai năm trước … mà nay cả lớp biết, cả gia đình biết, không ai ủng hộ cô chọn ngành Kinh tế Du Lịch trong khi điểm cô có thể tuyển thẳng vào Ngoại Thương … lần thứ hai cô phải suy nghĩ rất nhiều, để rồi cô vẫn kiên định chọn ngành Du Lịch khiến bao người thân không ai có thể hiểu. Nếu bạn là sinh viên Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm 1992 có lẽ bạn cũng sẽ bị hấp lực khó cưỡng bởi chuyên ngành Top 1 của trường là Ngoại Thương?”.
Tuy nhiên, cô vẫn chọn Du Lịch vì một tình yêu chưa bao giờ dứt với mong mỏi góp sức nhỏ bé trong công cuộc xây dựng ngành du lịch cho đất nước xinh đẹp của mình với bề dày lịch sử hơn 4000 năm văn hiến cùng nền văn hóa đẹp hơn gấm hoa được dệt bởi gần 60 anh em sắc tộc trải dài trên mảnh đất hình chữ S duyên dáng.
Đến khi vào học chuyên ngành, cô càng thấy ngành Kinh tế Du Lịch thật lý thú. Từ những năm 1990, cô đã từng xem Du Lịch không chỉ là “Con gà đẻ trứng vàng” của các quốc gia biết phát huy sức mạnh tổng hợp tiềm năng du lịch và hệ thống cơ sở hạ tầng của đất nước họ mà còn là một ngành có khả năng kết nối con người xuyên lãnh thổ, xuyên văn hóa, nó thực sự giúp con người 5 châu 4 bể hiểu biết nhau hơn trong sự tôn trọng quý mến bản sắc của nhau để có thể vui sống hòa bình. Nhìn rộng hơn ở những giá trị vật chất hữu hình thu hái từ ngành công nghiệp không khói này, cô nhận thấy ngành Du Lịch không chỉ là 1 ngành đem lại ngoại tệ cao như các báo cáo thường niên của Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization – nay là Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc “United Nations Tourism”) mà còn là một ngành mang tính nhân văn. Điều này càng khẳng định hơn trong thời đại số hóa, AI đang ngày một thống trị toàn cầu vài năm trở lại đây. Dẫu sau này AI phát triển tới đâu thì cũng khó mà lấn sâu vào hoạt động lữ hành du lịch, bởi du khách cần trải nghiệm thực tế qua ngũ quan trên mỗi bước chân, tại từng điểm đến của hành trình, cũng cần được tương tác với con người bản địa.

Thẻ đọc của cô cô Vũ Thị Hồng Ngọc – Khóa 16, Khoa Ngoại thương Du lịch
1995 | Những dấu ấn của một sinh viên trên hành trình trưởng thành
Đầu năm 1995 nhận lịch phân công thực tập tại Vietnamtourism (chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh) khi ấy là 1 đơn vị lữ hành hàng đầu cả nước và có đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp lên đến gần 60 hướng dẫn viên du lịch, cô được ban lãnh đạo xếp vào Phòng Hướng Dẫn. Tại đây, cô chuyên tâm theo sát công việc hằng ngày của các anh chị hướng dẫn viên thực hiện trong các tour inbound, tour outbound, tour tàu biển để viết luận án tốt nghiệp. Nếu bạn chưa từng học ngành Kinh tế Du Lịch, chưa từng tham gia tour được hướng dẫn bởi một người hướng dẫn viên (tour guide) hay một người trưởng đoàn (tour leader) có tâm có tầm và lành nghề, bạn sẽ khó hình dung ra được vai trò kết nối quan trọng – yếu tố tinh thần duy nhất cấu thành 1 tour đã tạo nên linh hồn, quyết định sự thành bại của 1 tour ra sao, và điều gì lắng đọng lại trong lòng mỗi du khách sau mỗi chuyến du hành? Tất cả nằm ở nghiệp vụ hướng dẫn khéo léo tài tình của những người làm nghề tour guide/ tour leader.
Và đây cũng là nền tảng để cô phát triển nâng tầm thành 1 tham luận “nghiên cứu về nghiệp vụ hướng dẫn du lịch” để tham gia cuộc thi “Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 1995” do Bộ Giáo Dục tổ chức dưới sự khuyến khích của thầy hướng dẫn luận án tốt nghiệp TS. Nguyễn Văn Hóa.

Năm 1995, cô Vũ Thị Hồng Ngọc đạt giải Ba Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” và được trao Bằng khen số 5350/QĐKT do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp.
Và cũng từ chính những năm tháng ấy, một cơ duyên mới đã mở ra. Chỉ khoảng bốn tháng sau khi bảo vệ luận văn tốt nghiệp, cô nhận được lời báo từ Thầy chủ nhiệm: chuẩn bị về trường làm giảng viên. Đó là một lời mời bất ngờ nhưng cũng trở thành bước ngoặt quan trọng trong hành trình của cô. Cô vẫn nhớ rất rõ thời điểm ấy, đúng vào dịp sinh nhật của mình, cũng là thời điểm đất nước vừa bước qua một dấu mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.


1995-1996 | Khi người sinh viên trở thành người đứng trên bục giảng
Từ đây, giảng đường không còn chỉ là nơi cô học tập. Đó trở thành nơi cô đứng trên bục giảng, gặp gỡ những thế hệ sinh viên mới và trao lại những kiến thức, trải nghiệm mà mình đã tích lũy. Trong 13 năm, cô đã giảng dạy và đồng hành cùng 13 khóa sinh viên chuyên ngành Du lịch. Mỗi khóa sinh viên đi qua mang theo những ước mơ và lựa chọn riêng. Có người tiếp tục gắn bó với ngành Du lịch, có người làm việc tại những tỉnh, thành khác nhau, tham gia vào nhiều vị trí trong lĩnh vực quản lý và phục vụ du lịch. Nhiều sinh viên năm nào giờ đây đã trưởng thành, đảm nhận những vai trò khác nhau trong ngành và tiếp tục góp phần tạo nên diện mạo của Du lịch Việt Nam.


Nhìn lại hành trình ấy, cô nhận ra sự gắn bó với ngành Du lịch của mình không chỉ được tiếp nối bằng những năm tháng đứng lớp, mà còn qua chính hành trình trưởng thành của những người học trò. Những kiến thức từng được trao đi trên giảng đường đã theo các thế hệ sinh viên bước vào thực tiễn, đến với nhiều địa phương, nhiều vị trí công việc và nhiều câu chuyện nghề nghiệp khác nhau. Có lẽ vì vậy, lựa chọn của cô học trò năm nào không chỉ dừng lại ở việc chọn một ngành học cho riêng mình. Ước mơ được góp một phần tuổi trẻ vào sự phát triển của Du lịch Việt Nam đã được tiếp nối theo một cách rộng hơn, qua những thế hệ sinh viên mà cô từng giảng dạy và đồng hành. Từ một sinh viên lựa chọn ngành Kinh tế Du lịch, cô đã trở thành người trao lại tình yêu nghề, kiến thức và những trải nghiệm của mình cho những người trẻ tiếp tục bước đi trên hành trình ấy.

50 năm của UEH được tạo nên từ hàng vạn hành trình khác nhau.
Có những người gắn bó với Nhà trường bằng cả sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu. Có những người bước ra từ giảng đường để xây dựng sự nghiệp ở nhiều lĩnh vực. Và cũng có những người, như cô Vũ Thị Hồng Ngọc, bắt đầu bằng một lựa chọn rất riêng của tuổi trẻ rồi trở thành một phần trong hành trình đào tạo những thế hệ tiếp theo.
Những kỷ vật cô gửi về UEH hôm nay vì thế không chỉ kể lại câu chuyện của một cựu sinh viên. Đó còn là câu chuyện về cách một lựa chọn của tuổi trẻ có thể vượt qua giới hạn của một đời người học, để tiếp tục hiện diện trong những thế hệ sau.
Mỗi kỷ vật – một dấu ấn. Mỗi câu chuyện – một phần ký ức. Cùng UEH bước qua những dấu mốc của thời gian và nhìn lại hành trình 50 năm được viết nên từ những con người, những câu chuyện và những giá trị được tiếp nối.
Hãy cùng trở về UEH và ghé thăm 𝑲𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒈𝒊𝒂𝒏 𝒕𝒓𝒊𝒆̂̉𝒏 𝒍𝒂̃𝒎 UEH 50 tại sảnh Cơ sở A, nơi những kỷ vật, hình ảnh và câu chuyện của nhiều thế hệ UEHer được lưu giữ, kết nối thành dòng chảy 50 năm – từ di sản đến tương lai.
Tin và ảnh: Ban Truyền thông và Phát triển đối tác
SDGS
- 1 - Xóa nghèo
- 2 - Không còn nạn đói
- 3 - Sức khỏe và có cuộc sống tốt
- 4 - Đảm bảo chất lượng giáo dục
- 5 - Bình đẳng giới
- 6 - Nước sạch và vệ sinh
- 7 - Năng lượng sạch với giá thành hợp lý
- 8 - Công việc tốt và tăng trưởng kinh tế
- 9 - Công nghiệp, sáng tạo và phát triển hạ tầng
- 10 - Giảm bất bình đẳng giữa các quốc gia
- 11 - Các thành phố và cộng đồng bền vững
- 12 - Tiêu thụ và sản xuất có trách nhiệm
- 13 - Hành động về khí hậu
- 14 - Tài nguyên và môi trường biển
- 15 - Tài nguyên và môi trường trên đất liền
- 16 - Hòa bình, công lý và các thể chế mạnh mẽ
- 17 - Hợp tác để hiện thực hóa các mục tiêu