Trương Quang Hùng
Khi đối diện với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 và suy thoái kinh tế kéo dài sau đó, Hoa kỳ và hầu hết các quốc gia phương Tây đều sử dụng chính sách tiền tệ phi chính thống, mà chúng ta gọi là chính sách nới lỏng định lượng (QE). Sở dĩ chúng được gọi là phi chính thống vì trong lý thuyết kinh tế vĩ mô không hề đề cập đến chúng. Vào năm 2014, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ lúc bấy giờ là Ben Bernanke đã châm biếm về chương trình mua trái phiếu dài hạn của Cục Dữ Liên Bang Hoa kỳ, “Chương trình này hoạt động trên thực tế nhưng không có nền tảng lý thuyết”. Người ta cũng có thể nói như vậy về chính sách kinh tế vĩ mô nói chung, theo nghĩa là không có lý thuyết vững chắc đằng sau các chính sách đó. Mặc dù các chính phủ ngày nay thường xuyên “kích thích” nền kinh tế để “chống lại” thất nghiệp trong thực tế, song các lý thuyết kinh tế vĩ mô chính thống lại cho rằng thất nghiệp nếu có chỉ là tự nguyên, phủ nhận sự tồn tại của bất kỳ thất nghiệp nào trong nền kinh tế.
Bỏ toán học sang một bên, kinh tế học ngày nay đã trở lại giống như trước đây một thế kỷ, chỉ tập trung vào kinh tế vi mô chủ yếu nghiên cứu về sự phân bổ các nguồn lực khan hiếm thông qua thị trường cộng với lý thuyết số lượng tiền được đề xuất bởi Iriving Fisher. Đến nay cho dù lý thuyết kinh tế học được cho là phát triển mạnh song thông điệp trung tâm vẫn là: Hãy tin vào thị trường như trước đây một thế kỷ. Trước đây một thế kỷ họ giải thích những vấn đề kinh tế vĩ mô dựa trên nền tảng của thị trường, vì rằng tất cả các thị trường được cho là cân bằng đồng thời và liên tục nên nhìn chung có sự cân bằng giữa lượng cung và lượng cầu trong nền kinh tế. Điều này có nghĩa là không có thiếu hụt tổng cầu, giới hạn sản xuất phụ thuộc vào nguồn lực và công nghệ từ phía tổng cung. Kinh tế học vào thời kỳ này, mà ngày nay chúng ta gọi là kinh tế học cổ điển, tin rằng không có hiện tượng chu kỳ về sản lượng và thất nghiệp, chỉ có chu kỳ về giá cả bởi lẽ họ tin rằng giá cả của tất cả thị trường sẽ linh họat để điều chỉnh về vị trí cân bằng. Và như vậy nguồn lực trong nền kinh tế luôn được sử dung đầy đủ, mức sản lượng nền kinh tế đạt được luôn là mức sản lượng tiềm năng và thất nghiêp tồn tại là thất nghiệp tự nguyện, dạng thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng.
Tuy nhiên, đầu thập niên 30 Đại suy thoái xuất hiện với tỷ lệ thất nghiệp cao nhất lên đến 25% và kéo dài gần một thập niên đã làm cho niềm tin vào thị trường tiêu tan và phủ nhận vai trò tiên đoán của kinh tế học cổ điển. Khi suy thoái tiếp tục kéo dài, các nhà kinh tế cổ điển vẫn khăng khăng cho rằng thị trường luôn đúng và đổ lỗi nguyên nhân thất nghiệp cao là do các công ty độc quyền cố định giá, sự can thiệp của chính phủ, nghiệp đoàn lao động vào thị trường lao động làm cho tiền lương và giá cả không linh hoạt để điều chỉnh về mức cân bằng. Tuy nhiên thật khó có thể chấp nhận với cách giải thích rằng nghiệp đoàn lao động và người lao động kiên quyết từ chối chấp nhận mức lương thấp khi mà mình thất nghiệp và cũng không thể hiểu được tại sao tỷ lệ thất nghiêp cao khi nền kinh tế suy thoái so với lúc bình thường.
Trong bối cảnh bất lực của kinh tế học cổ điển, J.M. Keynes đã xây dựng một khung lý thuyết thay thế cho các lý thuyết hiện thời được trình bày trong cuốn sách Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ đánh dấu sự ra đời của kinh tế học vĩ mô như một thách thức tất cả các lời giải thích của kinh tế học dựa trên thuyết cân bằng cung-cầu thông qua việc điều chỉnh giá cả. Trong tác phẩm này, Keynes cự tuyệt quan điểm thất nghiệp là do tiền lương và giá cả cứng nhắc của các nhà kinh tế cổ điển và đưa ra một ý tưởng mới cho rằng thất nghiệp có liên quan đến động cơ tiết kiệm và tính ưa thích thanh khoản. Về chủ thể tư duy, Keynes khám phá ra rằng không đúng như những gì các nhà kinh tế cổ điển đã từng lâp luận, con người luôn biết những gì mình cần phải làm để đạt được kết quả tốt nhất (con người kinh tế). Theo Keynes trong cuộc sống con người phải đưa ra quyết định và chịu hậu quả về những gì họ làm ngay cả khi họ biết rằng mình không biết các kết quả xảy ra trong tương lai. Đối diện với tương lai bất trắc như vậy, các quyết định đầu tư thường mang tính bản năng hơn là duy lý, việc ra quyết định phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tâm lý. Trạng thái tâm lý bi quan hay lạc quan ảnh hưởng rất lớn đến việc ra các quyết định.
Một khi các nhà đầu tư trở nên bi quan về tương lai và họ quyết định giảm chi đầu tư. Trong tình huống như vậy tiết kiệm sẽ nhiều hơn mức cần thiết (thặng dư tiết kiệm). Các nhà kinh tế học cổ điển nghĩ rằng tình trạng này sẽ nhanh chóng bị loại bỏ, vì đầu tư giảm sẽ làm giảm cầu cho vay và lãi suất sẽ giảm. Đến lượt lãi suất giảm sẽ làm cho đầu tư trở nên hấp dẫn hơn và chi đầu tư tăng trở lại ngay sau đó để tiết kiệm và chi cho đầu tư bằng nhau. Keynes cho rằng điều này không xảy ra vì thực tế chẳng có một thị trường vốn cạnh tranh hoàn hảo và lãi suất tự điều chỉnh như các nhà kinh tế cổ điển đặt niềm tin. Khi chi đầu tư giảm, sẽ làm giảm tổng chi tiêu hoặc tổng cầu hiệu dụng (cầu thực sự được hỗ trợ bởi sức mua). Một khi tổng cầu hiệu dung giảm, lượng hàng tồn kho ngoài kế hoạch gia tăng do hàng hoá bán không được, lơi nhuận giảm buộc các doanh nghiệp sẽ thu hẹp sản xuất cũng như giảm việc làm. Sản xuất thu hẹp sẽ làm thu nhập giảm kéo theo tiết kiệm giảm vì tiết kiệm là phần còn lại của thu nhâp sau chi cho tiêu dùng nhưng chi cho tiêu dùng là bộ phận không thay đổi nhiều. Cuối cùng tiết kiệm sẽ thu hẹp lai, nhưng cách mà tiết kiệm giảm như vậy sẽ không làm gia tăng chi đầu tư và tăng tổng cầu hiệu dụng. Keynes không tin rằng có cơ chế tự điều chỉnh để chi cho đầu tư tăng trở lai sao cho tổng cầu hiệu dung đủ để duy trì mức sản lượng tiềm năng mà chính phủ cần phải sử dung các khoản chi tiêu của mình một cách tích cực để nâng mức tổng cầu hiệu dụng lên nhằm duy trì mức sản lượng tiềm năng. Như vậy lý thuyết này chỉ ra rằng tổng cầu hiệu dụng xác định sản lương thay vì các yếu tố về phía cung như công nghệ và nguồn lực. Tình trạng suy thoái xảy ra là do sự thiếu hụt tổng cầu hiệu dụng và chính sách tài khoá tích cực là phương thuốc phù hợp để phục hồi mức sản lượng và giảm tỷ lệ thất nghiệp do suy thoái kinh tế gây ra.Ở đây Keynes không hề muốn chính phủ vận hành nền kinh tế, ông chỉ muốn chỉnh sửa lại nền kinh tế thị trường chứ không phải thay thế chúng.
Về tiền tệ, Keynes cho rằng khi đối diện với tính bất trắc, tiền tệ không chỉ đơn thuần là phương tiện trao đổi hay đơn vị tính toán như cách nghĩ các nhà kinh tế cổ điển và cả các nhà kinh tế tân cổ điển sau này. Ngoài các chức năng này, Keynes cho rằng tiền còn là một phương tiện để cung cấp thanh khoản, sự đàn hồi của thanh khoản là cần thiết nhằm thay đổi vị thế tài chính trong môi trường bất trắc. Như vậy Keynes cho rằng để một thứ có thể gọi là tiền, ngoài việc giá trị phải ổn định theo thời gian và tạo được niềm tin cho mọi người, tiền còn phải có tính đàn hồi. Sự đàn hồi của thanh khoản một phần lớn phụ thuộc vào khả năng tạo ra tiền của các ngân hàng. Ngân hàng không chỉ thuần là trung gian tài chính trong việc chuyển tiền tiết kiệm qua kênh chi cho đầu tư mà còn là một thể chế tạo ra tiền nhằm đáp ứng cầu thanh khoản mang tính đàn hồi trong môi trường bất trắc.
Các nhà kinh tế cổ điển và cả các nhà kinh tế tân cổ điển đại diện cho kinh tế vĩ mô hiện đại không chú ý quá nhiều đến vận hành của hệ thống tài chính, thường nhìn chúng một cách đơn giản như hoạt động của thị trường vốn vay hoạt động tự do, lãi suất tự điều chỉnh để cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư mà không cần phải giám sát. Keynes cho rằng thưc tế không diễn ra như vậy. Trên thị trường tài chính người ta có thể kiếm tiền từ những quan điểm khác nhau về giá trị tài sản, việc mua bán một tài sản tài chính trên thị trường thứ cấp không phải dựa vào lơi nhuận cuối cùng mà dựa vào giá trị mà người ta kỳ vong. Điều này có thể dẫn đến hành vi bầy đàn thường thấy trên thị trường tài chính làm cho thị trường bị cuốn vào các cơn sốt đầu cơ. Cơn sốt đầu cơ này có sự tham gia vào cũng như khuyến khích bởi các ngân hàng. Các ngân hàng kiếm được lơi nhuận từ hoat động bảo lãnh, thúc đẩy mua bán cũng như cung cấp tín dụng. Khi cơn sốt đầu cơ xuất hiện, các ngân hàng mở rộng tài sản và cung cấp tín dung cho các hoạt động đầu cơ này. Lượng vốn của một quốc gia thay vì được đưa vào hoat động sản xuất để tăng trưởng bây giờ trở thành sản phẩm phụ của hoạt động “sòng bài”. Tín dụng tạo ra bởi các ngân hàng gắn liền với nợ được tạo ra. Cơn sốt đầu cơ tạo ra bong bóng. Khi bong bóng vỡ, giá tài sản rơi tự do và các nhà đầu cơ gánh chiu tổn thất năng nề với nợ nần. Tài sản trong các bảng cân đối kế toán của các nhà đầu cơ và các ngân hàng bị thu hẹp dẫn đến mất khả năng thanh toán. Hiện tượng tháo chạy ra khỏi ngân hàng kéo theo sự sụp đổ cả hệ thống ngân hàng đã xảy ra trong các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế cho thấy tính bất ổn của hệ thống tài chính.
Lý thuyết kinh tế vĩ mô còn non trẻ này khi ra đời chưa thể được chấp nhận ngay và không tránh khỏi nhiều chỉ trích như thiếu nền tảng của kinh tế vi mô, chẳng hạn như lý thuyết không giải thích được tại sao vào thời điểm thất nghiệp cao nhưng tiền lương vẫn không giảm. Về sự can thiệp của chính phủ, nhiều nhà kinh tế sáng giá lúc đó theo thuyết đinh mệnh, như Joseph Schumpeter, coi việc suy thoái như là hậu quả tất yếu của sự phát triển quá mức trước đó và đây là giai đoạn tốt để chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo. Những nhà kinh tế này cho rằng phục hồi kinh tế chỉ lành mạnh khi phát sinh từ nội tại của nền kinh tế, bất cứ sự can thiệp kinh tế nào từ chính phủ đều dẫn đến động cơ sai lệch và đặt nền kinh tế trước nguy cơ khủng hoảng tiếp theo. Một số các nhà kinh tế học khác thuộc phái tiền tệ cũng đã tấn công lý thuyết của Keynes với người đi đầu là Milton Friedman ở Đại học Chicago, người mà ngay từ những năm 1953 đã khẳng định rằng kinh tế học cổ điển với niềm tin vào thị trường đã chỉ ra con đường đúng đắn cho hoạt động của nền kinh tế. Ông không ủng hộ cho sự chủ động bình ổn của chính phủ. Để ngăn ngừa suy thoái, theo ông sự can thiệp của chính phủ nếu có, chỉ ở mức rất hạn chế như duy trì tốc độ tăng trưởng cung tiền ở mức thấp và ổn định là đủ. Ông từng tuyên bố rằng nếu Cục Dữ Liên Bang Hoa kỳ có hành động một cách hợp lý, Đại suy thoái đã không xảy ra.
Mặc dù chịu rất nhiều chỉ trích, lý thuyết kinh tế vĩ mô được đề xuất bởi Keynes được củng cố và phát triển trong suốt những năm 50 và 60. Một phần là do thời gian này kinh tế vĩ mô của Hoa Kỳ phù hợp với những dự đoán của lý thuyết Keynes. Khi chi tiêu của chính phủ tăng vọt trong những năm 1940, tăng từ khoảng 16% GDP năm 1939 lên 48% GDP năm 1944, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm mạnh từ 17,2% xuống 1,2%. Điều này làm tăng niềm tin của các nhà kinh tế vào lý thuyết Keynes. Nhưng có lẽ yếu tố trung tâm đằng sau sự trường tồn của Lý thuyết Tổng quát là một loạt các đột phá trong phương pháp kinh tế lượng bắt đầu từ những năm 1940. Những phát triển kinh tế lượng này đã hình thành cơ sở của bộ công cụ được sử dụng để phân tích các biến động kinh tế được định hướng bởi các yếu tố phía cầu theo Lý thuyết Tổng quát. Trong suốt những năm 1960, nền kinh tế tiếp tục phát triển với sự ổn định và đối với nhiều nhà quan sát sự thịnh vượng ổn định này một phần đáng kể là do các nguyên lý của Lý thuyết Tổng quát mang lại.
Song khi cuộc khủng hoảng vào thập niên 70 xuất hiện thì sự phản bác lại lý thuyết Keynes của Milton Friedman trở nên mạnh mẽ hơn. Một phần là do các dự đoán nghèo nàn của các mô hình kinh tế lượng. Thời kỳ này lạm phát tăng cao trong khi kinh tế tăng trưởng chậm lại và tỷ lệ thất nghiêp gia tăng, bằng chứng thực tế này trái với những gì lý thuyết Keynes dự đoán. Milton Friedman sử dụng “giả thuyết kỳ vọng thích nghi” để chứng minh rằng trong dài hạn không có sự đánh đổi giữa lam phát và thất nghiêp. Ông tuyên bố: “Luôn luôn có một sự đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp, nhưng không phải sự đánh đổi lâu dài.” Theo ông, sau một thời kỳ lạm phát kéo dài, người ta sẽ đưa kỳ vọng về lạm phát trong tương lai vào quyết định của họ, làm vô hiệu hóa bất kỳ hiệu quả tích cực nào của lạm phát đối với việc làm. Chẳng hạn, một lý do lạm phát có thể dẫn đến việc làm cao hơn là do thuê nhiều công nhân sẽ trở nên có lợi hơn cho chủ doanh nghiệp khi giá tăng nhanh hơn tiền lương lao động. Nhưng một khi người lao động hiểu rằng sức mua của lương họ sẽ bị giảm vì lạm phát, họ sẽ đòi trước những thỏa thuận lương cao hơn, để cho lương tăng kịp với giá. Kết quả là, sau khi tình trạng lạm phát diễn ra một thời gian ngắn, nó sẽ không còn đem lại sức tăng việc làm như ban đầu nữa. Thực tế, tỉ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên nếu tình trạng lạm phát diễn ra không như mong đợi. Hiện tượng này được gọi là đình lạm (stagflation).
Nhưng sau đó các nhà kinh tế thuộc phái tân cổ điển đã đẩy những phân tích về lạm phát của Friedman đi xa hơn nữa nhằm chống lai Keynes. Họ lập luận rằng không có sự đánh đổi nào đáng kể giữa lạm phát và thất nghiệp ngay cả trong ngắn hạn, bởi vì người dân sẽ tiên liệu các hành động của chính phủ và dùng tiên liệu đó, cũng như kinh nghiệm quá khứ, vào trong việc thiết lập giá và thương lượng tiền lương. Học thuyết này, được biết đến như “giả thuyết kỳ vọng hợp lý”, lan rộng ra trong giới kinh tế học học thuật. Học thuyết này ra đời đã đẩy lý thuyết kinh tế vĩ mô còn non trẻ được đề xuất bởi Keynes ra khỏi kinh tế hoc. Họ thay thế quan điểm của Keynes về thị trường tài chính bất ổn bằng “giả thuyết thị trường hiệu quả” được đề xướng bởi Eugene Fama từ ĐH Chicago, giả thuyết này cho rằng với tất cả thông tin sẵn có, thị trường vốn luôn định giá đúng, giá cả trên thị trường phản ánh đúng giá trị thực chất của nó, không có hiện tượng bong bóng giá và không có cơ hội cho các nhà đầu cơ kiếm lợi nhuân như Keynes đã đề xuất trước đó. Các nhà kinh tế tài chính tiếp tục phát triển một mô hình lý thuyết đẹp và rất logic dựa trên giả thuyết là các nhà đầu tư đều cân đối một cách hợp lý giữa lợi nhuận và rủi ro. Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) làm cơ sở cho việc lựa chọn danh mục đầu tư và định giá tài sản. Sự đẹp đẻ và dường như có vẻ hữu ích của mô hình đã mang lại giải Nobel kinh tế cho tác giả của mô hình. Kinh tế vĩ mô từ đây quay trở lại với các mô hình cổ điển được giải thích dựa trên nền tảng của kinh tế vi mô, với giả thiết thị trường cạnh tranh hoàn hảo kết hợp với lý thuyêt số lượng tiền. Họ quan tâm đến các chủ thể tư duy với những thông tin có sẵn luôn biết những gì mình cần phải làm có lợi nhất để phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả.
Ví dụ, Một vấn đề quan trọng trong kinh tế học là điều gì gây ra thất nghiệp? Câu trả lời tiêu chuẩn trong sách giáo khoa được sử dụng trong các trường Đại học dựa trên nền tảng của kinh tế vi mô. Trên thị trường lao động, người lao động luôn đối diện với sự đánh đổi giữa thời gian nhàn rỗi và thu nhập, cái giá của thời gian nhàn rỗi chính là tiền lương. Một thợ làm khung xe yêu cầu mức tiền lương 150 nghìn đồng một giờ tương ứng với sự khó nhọc mà ông ta phải gánh chịu, nhưng ông ta chỉ còn có thể kiếm được chỉ với 130 đồng mỗi giờ trên thị trường lao động, người thợ này sẽ chọn nhàn rỗi thay vì làm việc. Lựa chọn đó là tự nguyện, phản ánh sở thích của người lao động đối với nhàn rỗi hoặc làm việc. Điều này cũng đúng đối với tất cả người lao động trong một nền kinh tế. Theo quan điểm này, cái được gọi là thất nghiệp là sự lựa chọn nhàn rỗi không làm việc mang tính tự nguyện nhằm tối đa hóa sự thỏa mãn của người lao động chứ không phải do cầu lao động giảm.
Giả định chính ở đây là mọi người đều tối ưu hóa: họ lựa chọn cách thức phân bổ nguồn lực khan hiếm sao cho mức hữu dụng đạt mức tối đa. Công việc làm luôn có sẵn một số mức giá. Vì vậy, thất nghiệp là lựa chọn tối ưu của những người thất nghiệp chứ không phải do suy thoái kinh tế gây ra, thất nghiệp này tồn tại ngay cả khi thị trường lao động cân bằng. Vì vậy, nếu chính phủ mở rộng cung tiền trong nỗ lực tăng việc làm, kết quả duy nhất nền kinh tế phải gánh chịu sẽ là lạm phát, bởi vì mở rộng tiền tệ không thể làm tăng cung lao động. Do đó, chính sách tiền tệ chỉ nên quan tâm đến mục tiêu ổn định giá cả thay vì ổn định kinh tế nói chung, mà tốt nhất là được giao phó cho một ngân hàng trung ương độc lập không bị cám dỗ về chính trị thực hiện.
Dù vậy không phải tất cả đều đi theo con đường đó, một số các nhà kinh tế đã lo sợ trước logic của các giả định trong mô hình kinh tế vĩ mô. Chẳng hạn họ nhận ra nền tảng kinh tế vi mô cho phân tích kinh tế vĩ mô dựa trên giả thiết hành vi duy lý và cơ chế tự điều chỉnh thông qua thị trường cạnh tranh là không thực tế. Trong 2 năm 1973-1974, cổ phiếu mất 48% giá trị hoăc trong vụ sụp đổ năm 1987 chỉ số Dow mất 23% chỉ trong 1 ngày mà chẳng hiểu nguyên nhân. Sau những sự kiện như vậy, một số các nhà kinh tế có chút nghi ngờ về thị trường hợp lý. Một số các nhà kinh tế tự nhận mình là “tân Keynes” cũng đi theo xu hướng chung như tin vào hành vi duy lý của con người và thị trường xu hướng chung là đúng song họ vẫn tin vào vai trò chủ động của chính phủ trong điều tiết hoạt động thị trường.
Trên thị trường lao động, một số nhà kinh tế đã chấp nhận sự tồn tại của thất nghiêp “không tự nguyện” trong thực tế. Gần đây nhất trong cuốn sách giáo khoa Kinh tế vĩ mô được viết bởi Daron Acemoglu của MIT, David Laibson của Đại học Harvard và John List của Đại học Chicago đã xác định ba loại thất nghiệp “không tự nguyện”: ma sát, cơ cấu và chu kỳ. Thất nghiệp ma sát nảy sinh bởi vì tìm kiếm việc làm mất nhiều thời gian. Thất nghiệp cơ cấu phát sinh do sự cứng nhắc về tiền lương khiến lượng cầu lao động không khớp với lượng cung lao động. Thất nghiệp theo chu kỳ xảy ra do “cú sốc công nghệ, thay đổi cảm xúc và các yếu tố tiền tệ / tài chính” và “được khuếch đại bởi mức độ cứng nhắc của tiền lương và số nhân chi tiêu giảm xuống”. Số nhân chi tiêu, một công thức đơn giản để tính toán tác động khuếch đại của bất kỳ thay đổi tăng hoặc giảm chi tiêu nào, là một bộ phận duy nhất của lý thuyết kinh tế vĩ mô còn sót lại sau cái chết của các chính sách quản lý tổng cầu của Keynes. Ngay cả công cụ này cũng không còn được sử dụng trong một thời gian dài – số nhân được cho là bằng 0 – trước khi có cú sốc kinh tế và tài chính 2008-09 làm hồi sinh nó.
Tương tự như vậy trên thị trường tài chính, một số nhà kinh tế cũng nhận ra tính bất ổn của thị trường và tin vào vai trò chủ động của chính phủ. Năm nay giải thưởng Nobel kinh tế được trao cho Bernanke, Diamond và Dybvig vì đã có những đóng góp cho những tiến bộ kinh tế. Các công trình nghiên cứu của họ vào thập niên 80 hướng vào kinh tế vi mô của khủng hoảng tài chính, tập trung vào sự bất ổn của thị trường tài chính giúp cho ta hiểu được nguyên nhân của Đại suy thoái những năm 30, trong đó sự tháo chạy khỏi ngân hàng là yếu tố quyết định làm cho cuộc khủng hoảng tài chính trở nên nghiêm trọng và kéo dài. Quan trọng hơn họ cũng chỉ ra cách khắc chế vấn đề này thông qua các biện pháp điều tiết chính phủ như bảo hiểm tiền gởi và người cho vay cuối cùng. Họ tự tin cho rằng điều mà các nhà kinh tế không lường trước được tính dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính trước một cuộc tháo chạy khỏi ngân hàng kéo theo một cơn hoảng loạn vào thập niên 30 có lẽ không còn xảy ra nữa bởi lẽ ngày nay chính phủ cung cấp bảo hiểm tiền gửi [FDIC] và hoạt động như một người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng. Bernanke đã nói:
Chúng tôi đã biết thực tế là giá nhà rất cao. Và chúng tôi nghĩ rằng rất có thể thị trường sẽ sửa sai vào một lúc nào đó. Đến năm 2006, 2007, chúng tôi cũng nhận thức được những vấn đề của thị trường cho vay dưới chuẩn. Điều mà chúng tôi không lường trước và không ai lường trước được là tính dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính nói chung trước một cuộc tháo chạy, một cơn hoảng loạn. Bạn biết đấy, vào thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chúng ta đã có những đợt điều hành ngân hàng. Mọi người sẽ chạy đến ngân hàng, rút tiền mặt của họ và ngân hàng sẽ phải đóng cửa. Đó là điều xảy ra trong câu chuyện những năm 1930. Vì vậy, bây giờ chúng ta có bảo hiểm tiền gửi [FDIC]. Chúng tôi không thấy điều đó sắp xảy ra.
Nhưng các nhà kinh tế này không nhận ra rằng hệ thống tài chính ngày nay phức tạp hơn trước rất nhiều so với những thập niên 30, có một số ngân hàng hoat động trong bóng tối và thị trường liên ngân hàng không được bảo vệ bởi các tổ chức bảo hiểm tiền gởi [FDIC]. Chính vì vậy khi Bernanke nắm giữ vai trò lãnh đạo Cục Dự Trữ Liên Bang ( 2006 – 2014) ông không nhìn thấy trước cuộc khủng hoảng năm 2008 và cũng không có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn nó kịp thời mặc dù có những dấu hiệu cảnh báo trước như giá nhà đất rất cao, nợ nần chồng chất trước đó.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Đại suy thoái một lần nữa xảy ra ngoài dự đoán của các nhà kinh tế và giả thuyết tương lai bất trắc của Keynes được củng cố. Măc dù vậy, các nhà kinh tế tân cổ điển vẫn tin rằng mô hình của mình cơ bản là đúng, chỉ thừa nhận hiện tượng suy thoái mang tính ngẫu nhiên, không phải là cố hữu nên không thể dự đoán được. Do đó, chúng có thể được giảm thiểu bằng các cải cách thị trường lao động, thiết kế lại các thể chế để tiền lương cố định “không còn tồn tại nữa”, và bằng các quy định tốt hơn cho các hoạt động của các ngân hàng, thị trường tài chính để luồng vốn được tự do lưu chuyển, không còn rào cản hay ma sát nào làm hao hụt hay gián đoạn luồng chi tiêu trong nền kinh tế. Trong thời kỳ suy thoái – trạng thái mất cân bằng – hầu hết các nhà kinh tế hiện nay miễn cưỡng cho rằng chính sách kinh tế vĩ mô mở rộng có thể làm tăng cầu lao động ngắn hạn. Nhưng đây lại chính là sự đóng góp của Keynes. Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế Robert Lucas đã nhận xét vào năm 2009, “Tôi đoán mọi người đều là người theo phái Keynes trong tình thế phòng vệ”. Nhưng trong mô hình của Lucas đề xuất, chính sách kinh tế vĩ mô ngày nay chỉ được dành cho những cú sốc kinh tế ngẫu nhiên. Nhưng bởi vì không có mô hình kinh tế nào về các cú sốc – mà theo như các nhà kinh tế cú sốc là ngẫu nhiên và không đáng mong đợi – nên không cần có lý thuyết cho các chính sách kích thích kinh tế. Cho dù cuối cùng các nhà kinh tế không thể bác bỏ tư tưởng của Keynes, họ chỉ xem cuộc cách mạng của Keynes không phải là nền tảng của kinh tế vĩ mô mà chỉ là một ghi chú tiện dụng trong trường hợp khẩn cấp cần dùng.
Các chính sách kinh tế vĩ mô cho những trường hơp khẩn cấp đó có thể là chính sách tiền tệ hoặc chính sách tài khóa. Các ngân hàng trung ương có thể tăng cung tiền cho các công ty tư nhân để khuyến khích họ thuê thêm công nhân, hoặc các chính phủ có thể gây thâm hụt ngân sách bằng cách gia tăng chi tiêu hoặc căt giảm thuế. Nhưng khi lãnh đạo Cục Dữ Liên Bang Hoa kỳ đều là các nhà kinh tế đặt niềm tin vào thị trường tự do, dường như chỉ có chính sách tiền tệ được chấp nhận cho các cú sốc kinh tế. Thí dụ như dưới thời của Bernanke “bơm tiền” (dưới dạng nới lỏng số lượng tiền, QE, bằng cách Cục Dữ Liên Bang Hoa kỳ mua vào một lượng lớn trái phiếu dài hạn của chính phủ và trái phiếu đảm bảo bằng tài sản thế chấp) là phản ứng chính đối với cuộc Đại suy thoái 2008-09 của Cục Dữ Liên Bang Hoa kỳ. Kết quả là lượng tiền cơ sở tăng lên trên 3 nghìn tỷ đô la trong thời kỳ Bernanke làm chủ tịch Cục Dữ Liên Bang . Các nhà kinh tế của Cục Dữ Liên Bang tin rằng việc mua trái phiếu dài hạn sẽ làm tăng giá và giảm tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của chúng và chúng không còn hấp dẫn các nhà đầu tư buộc họ phải cơ cấu lại tài sản trong danh mục đầu tư. Điều này làm cho cổ phiếu và bất động sản trở nên hấp dẫn hơn. Khi giá các tài sản này gia tăng, một mặt tạo ra hiệu ứng của cải kích thích chi cho tiêu dùng nhiều hơn cùng khả năng có thể vay tiền nhiều hơn của người dân do giá trị tài sản thế chấp tăng. Kết hợp 2 tác động này sẽ làm gia tăng chi tiêu và đẩy lạm phát đến mục tiêu 2%, đưa sản lượng trở lại mức tăng trưởng 3% và lãi suất trở lại bình thường.
Lựa chọn chính sách này chứng tỏ các nhà kinh tế hiện nay phải thừa nhận suy thoái là do sự sụt giảm cầu hiệu dung và Ngân hàng Trung ương chống suy thoái bằng việc “bơm tiền” vào nền kinh tế. Đây là những gì Bernanke nói có tác dụng trong thực tế, nhưng không có trên lý thuyết kinh tế. Nhưng ngay cả trên thực tế, chính sách tiền tệ kiểu này cũng không có tác động vì bằng chứng là nền kinh tế vẫn không có dấu hiệu hồi phục, không có kết quả nào kể trên đạt được. Các Ngân hàng Trung ương vẫn không thắng được giảm phát mặc dù bơm rất nhiều tiền cho đến khi đại dịch xảy ra. Dường như thời kỳ này không tìm thấy mối tương quan giữa cung tiền và lạm phát . Các nhà kinh tế đề xuất chính sách nới lỏng số lượng tiền, QE, biện minh rằng mọi thứ sẽ còn tồi tệ hơn nếu không có nó. Song không có bằng chứng thực tế nào để chứng minh hoặc bác bỏ nó.
Đại dịch COVID-19 đã buộc các chính phủ miễn cưỡng quay trở lại với giải pháp chính sách tài khoá mở rộng mà từ lâu đã biến mất do thực tế việc tăng lượng tiền không thể dẫn đến việc mở cửa trở lại các doanh nghiệp đã bị đóng cửa do gián cách xã hội. Kích thích tài khóa đã làm được điều thật kỳ diệu trong cuộc phong tỏa lớn do Đại dịch COVID-19 gây ra là củng cố lại bảng cân đối kế toán của các hộ gia đình và doanh nghiệp vốn đã bị xói mòn và thúc đẩy sự gia tăng chi tiêu nhiều hơn khi đại dịch lắng xuống. Số chi tiêu này được khuyếch đại thông qua số nhân tài khóa với kết quả sự hồi phục nhanh chóng về mức sản lượng và mức nhân dụng vào năm 2021. Nói về chính sách kích thích tài khóa, hai giáo sư kinh tế học Alan Auerbach và Yuriy Gorodnichenko của Trường Đại học California, Berkeley trong một số bài viết gần đây đã thừa nhân rằng đại dich COVID-19 đã dạy lại cho họ về số nhân tài khóa mà họ vốn quên từ lâu. Do đó, mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành không như Bernanke đã thấy trước đây. Thực tế là chính sách tiền tệ không hoạt động vì bằng chứng cho thấy việc bơm tiền của Cục Dữ Liên Bang Hoa kỳ không có tác dụng gì nhiều trong khi chính sách tài khóa hoạt động tốt trên thực tế. Chính sách tài khoá khẳng định vai trò của mình khi nền kinh tế rơi vào bẫy thanh khoản nhưng đây cũng là ý tưởng của Keynes.
Keynes đã khẳng định rằng chúng ta luôn đối diện với tương lai bất trắc và chúng ta “không thể biết trước được điều gì sẽ xảy ra”, đó là lý do tại sao ông bác bỏ quan điểm của các nhà kinh tế cho rằng các nền kinh tế luôn ổn định nếu không có các cú sốc ngẫu nhiên bởi lẽ theo Keynes các cú sốc kinh tế là nội sinh và do chính hoat động của nền kinh tế tạo ra. Dưới cái nhìn của các nhà kinh tế hiện nay đại dịch là một cú sốc ngẫu nhiên và bây giờ nền kinh tế đã mở cửa trở lại sau đại dịch, cơ sở lý luận thực tế cho việc mở rộng tiền tệ và tài khóa đã không còn cần nữa. Các nhà bình luận tài chính tin rằng nền kinh tế sẽ tự phục hồi trở lại như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Nhưng mọi việc không diễn ra như vậy, dù đại dịch đã qua, các nền kinh tế vẫn còn đó của hậu quả của lãi suất thấp và ngân hàng trung ương đang nắm giữ lượng chứng khoán quá nhiều. Chính sách QE và lãi suất zero trước đã đã tạo một hiệu ứng bong bóng tài sản-cổ phiếu, trái phiếu, tín dung, bất động sản- khắp nơi, từ những nước phát triển cho đến các thị trường mới nổi cùng với một lượng dự trữ tiền lớn được bơm ra trước đây sẵn sàng cho việc chi tiêu. Rồi thì lạm phát xuất hiện ở khắp nơi. Vì vậy, đã đến lúc cần phải thắt chặt chính sách tiền tệ, bởi vì việc tiếp tục mở rộng sẽ chỉ dẫn đến “lạm phát tăng vọt”.
Các nhà chính sách chưa thể thở phào nhẹ nhõm, trong nền kinh tế Mỹ với chính sách tăng lãi suất và thu hẹp tài sản trong bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Trung ương trong khi nền kinh tế còn quá yếu sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm lai, xì hơi bong bóng tài sản trên thị trường chứng khoán, bất động sản. Việc tăng lãi suất lên quá cao có thể phải trả giá bằng suy thoái kinh tế trong vài năm tới. Các nước sử dung đồng tiền chung đang phải đối diện với giá năng lượng tăng do chiến tranh. Trung Quốc một măt phải đối phó với gián cách xã hội do đại dịch măt khác phải đối phó với cuộc khủng hoảng bất động sản. Việc tăng lãi suất của Mỹ đã tạo ra sự dịch chuyển luồng vốn từ nước ngoài vào Mỹ, đồng đô la Mỹ tăng giá và gánh nặng nợ nần của các nước nghèo tăng lên. Tương lai là bất trắc và chúng ta khó biết trước được điều gì sẽ xảy ra nhưng có nỗi lo là thế giới này chống chịu được tới đâu khi mà lãi suất của Mỹ cứ tiếp tục tăng cho tới khi đạt được lạm phát mục tiêu. Thực tế lạm phát khó kéo xuống như mong đợi được khi chi phí sản xuất tăng do đứt gãy chuỗi cung ứng, sự leo thang giá năng lượng, lương thực do chiến tranh. Chấn thương chưa hồi phục lại tiếp tục chấn thương mới và cuộc sống bình thường vẫn chưa trở lại với mọi người dân trong những năm tới.
Quay lại với lý thuyết kinh tế vĩ mô, các mô hình cung và cầu trong môn kinh tế học vi mô mà sinh viên kinh tế năm thứ nhất được dạy có thể giúp chúng ta nhận ra được cân bằng của từng thị trường riêng lẻ nhưng không phải của toàn bộ nền kinh tế. Bằng chứng cho thấy kinh tế vĩ mô được xây dựng dựa trên nền tảng kinh tế vi mô được các nhà kinh tế áp dụng trong những thập niên qua không có đóng góp gì vào dự đoán, giải thích hay giải quyết cuộc Đại suy thoái. Vì vậy, kinh tế vĩ mô cũng không cần và có lẽ không nên được xây dựng trên nền tảng tập trung vào việc tối ưu hóa các quyết định của các hộ gia đình và doanh nghiệp. Để một cách tiếp cận như vậy có thể điều chỉnh được trên bình diện toàn bộ nền kinh tế cần phải trừu tượng hóa quá nhiều. Trong thực tế cũng có một số nhà kinh tế vẫn trung thành với cách tiếp cận của J.M. Keynes, họ không dựa trên nền tảng kinh tế vi mô, thách thức giả định về hành vi duy lý, nghi ngờ niềm tin vào thị trường tài chính tự do. Ngày nay những hiểu biết sâu sắc về cuộc khủng hoảng tài chính mà các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà đầu tư thấy có giá trị nhất đến từ các học giả, chẳng hạn như Hyman Minsky và Charles Kindleberger, những người nghĩ về tổng thể rộng và không nỗ lực thiết lập các nền tảng kinh tế vi mô. Những người tham gia thị trường, chẳng hạn như Ray Dalio, người được cho là có liên quan nhất đến cuộc khủng hoảng đã bỏ qua kinh tế vi mô khi họ đưa ra lý thuyết về tổng nợ và tín dụng. Những nghiên cứu gần đây về kinh tế học hành vi cho thấy rằng tối ưu hóa kiểu mà các nhà kinh tế thuộc phái tân cổ điển và tân Keynes theo đuổi là một mô hình kém để hiểu các quyết định chi tiêu thực tế.
Kinh tế học vĩ mô là đứa con của sự bất trắc. Trừ khi các nhà kinh tế học nhận ra sự tồn tại của bất trắc không thể tránh khỏi trong thực tế ngay cả khi chúng ta có các thể chế ràng buộc những cam kết thực thi trong tương lai thông qua các hợp đồng. Nhưng tương lai vẫn bất trắc bởi lẽ hợp đồng không bao giờ đầy đủ, chúng ta không thể nào ràng buộc bởi các điều khoản cố đinh khi chúng ta không biết trước điều gì sẽ xảy ra. Chúng ta không thể có lý thuyết kinh tế vĩ mô theo đúng nghĩa mà chỉ có những phản ứng thận trọng đối với các trường hợp khẩn cấp. Một khi chúng ta thừa nhận hiện tượng biến động và khủng hoảng kinh tế là đối tượng nghiên cứu của kinh tế vĩ mô, kinh tế vĩ mô cần phải có nền tảng nhưng không phải là kinh tế vi mô gắn với các quyết định tối ưu. Nền tảng đó là con người luôn đối diện với sự bất trắc và quyết định của họ chịu sự tác động bởi yếu tố tâm lý. Các lý thuyết về sự biến động và khủng hoảng kinh tế dựa trên xu hướng con người trở nên quá tham lam và sau đó là quá sợ hãi có vẻ hiệu quả hơn nhiều so với các mô hình lý thuyết dựa trên sự tối ưu hóa chính xác như các nhà kinh tế đã theo đuổi. Mô hình hóa nền kinh tế không phải là điều duy nhất mà các nhà kinh tế vĩ mô phải làm. Thực tế cho thấy mô hình Cân bằng động học ngẫu nhiên (DSGE) – được xem là sự đổi mới lớn trong lý thuyết kinh tế vĩ mô trong hơn 40 năm qua – cho đến nay vẫn chưa chứng tỏ bản thân hữu ích cho bất kỳ điều gì khác ngoài việc xuất bản nhiều bài báo kinh tế hơn.
Nhìn về triển vọng cho lý thuyết kinh tế vĩ mô, các công trình của Daniel Kahneman và Amos Tversky có thể được sử dụng để xây dựng các mô hình kỳ vọng trong từng bộ phận của nền kinh tế có thể kiểm soát được thay cho các mô hình toán Cân bằng động học ngẫu nhiên (DSGE) lâu nay được xem là ngôn ngữ chung cho các nhà kinh tế vĩ mô hiện đại.Cách tiếp cận này giúp đánh giá lại bong bóng nhà đất trước cuộc khủng hoảng tài chính và cũng giải thích tại sao các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách lại rất chậm chạp trong việc nắm bắt các điểm yếu của thị trường khi bong bóng bắt đầu giảm phát.
Trương Quang Hùng, ngày 15/10/2022